Bạn bỏ tiền lập vi bằng để giữ chứng
cứ, sau đó khởi kiện. Nếu yêu cầu của mình có căn cứ, khoản tiền đã trả để lập
vi bằng có thể yêu cầu bên kia hoàn lại không?
Câu trả lời từ thực tiễn xét xử
không đơn giản là “có” hoặc “không”.
Có vụ Tòa buộc bên vi phạm bồi
thường 8,4 triệu đồng tiền lập vi bằng. Có vụ chấp nhận 15,975 triệu
đồng là chi phí thu thập chứng cứ nhưng trách nhiệm bồi thường cuối cùng lại
giảm vì người yêu cầu cũng có lỗi. Trong một tranh chấp thương mại khác, Tòa
xác định 5,5 triệu đồng tiền lập vi bằng là chi phí do chính nguyên đơn thu
thập chứng cứ nên phải tự chịu.
Điểm cần hỏi vì vậy không chỉ là:
“Tôi có hóa đơn lập vi bằng
hay không?”
Mà phải hỏi thêm:
Khoản tiền này phát sinh để
làm gì, pháp luật xếp nó vào loại chi phí nào, và có đủ căn cứ để buộc người
khác phải gánh khoản tiền đó hay không?
Vi bằng có thể được sử dụng như một
nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét. Nhưng giá trị sử dụng của vi bằng trong chứng
minh và việc ai phải chịu chi phí lập vi bằng là hai vấn đề khác
nhau.
 |
| Cùng là chi phí lập vi bằng nhưng kết quả xem xét có thể khác nhau tùy căn cứ và hoàn cảnh vụ việc |
Một khoản tiền, năm cách Tòa
xem xét
|
Bản án
|
Loại tranh chấp
|
Chi phí vi bằng
|
Kết quả đáng chú ý
|
|
Bản án số 1104/2023/DS-PT
ngày 29/11/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh
|
Danh dự, nhân phẩm, uy tín
|
8,4 triệu
|
Được bồi thường
|
|
Bản án số 66/2022/DS-ST ngày
12/04/2022 của TAND thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
|
Danh dự, uy tín doanh nghiệp
|
15,975 triệu
|
Khoản phí được chấp nhận; nghĩa
vụ cuối cùng giảm theo tỷ lệ lỗi
|
|
Bản án số 19/2020/KDTM-ST
ngày 17/09/2020 của TAND TP. Hà Nội
|
Sở hữu trí tuệ
|
4,05 triệu
|
Được tính là chi phí hợp lý để
ngăn chặn, khắc phục thiệt hại
|
|
Bản án số 1234/2023/KDTM-PT
ngày 22/12/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh
|
Hợp đồng mua bán hàng hóa
|
5,5 triệu
|
Không được bồi thường; người
thu thập chứng cứ tự chịu
|
|
Bản án số 06/2023/KDTM-PT
ngày 11/01/2023 của TAND TP. Hà Nội
|
Hợp đồng thuê nhà
|
3,35; 7,645; 7,186 triệu
|
Các khoản phí vi bằng trong yêu
cầu phản tố không được chấp nhận
|
Các thông tin về ngày, Tòa án và
nội dung chính của bốn bản án ngoài kho được kiểm tra lại từ nguồn công bố;
riêng Bản án 06/2023/KDTM-PT được đối chiếu trực tiếp với bản án gốc trong kho
CHUNGCUSO.
Vì sao 8,4 triệu đồng được bồi thường? Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP nói gì?
Bản án số 1104/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh là một trường hợp khá rõ về việc Tòa án chấp nhận chi phí lập vi bằng như một khoản thiệt hại được bồi thường.
Trong vụ án, nguyên đơn lập vi bằng để thu thập chứng cứ về các bài viết trên Facebook và xuất trình phiếu thu ngày 23/02/2022, thể hiện đã trả 8,4 triệu đồng chi phí lập vi bằng. Khi xem xét khoản tiền này, Hội đồng xét xử viện dẫn Điều 592 Bộ luật Dân sự và Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP xác định trong nhóm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm có:
“chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Quy định này đáng chú ý vì pháp luật không chỉ nói chung về “chi phí hợp lý”, mà trực tiếp nhắc đến chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ.
Từ quy định đó, Hội đồng xét xử đối chiếu với chứng cứ cụ thể của vụ án: nguyên đơn có phiếu thu chứng minh đã chi 8,4 triệu đồng để lập vi bằng nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ cho yêu cầu khởi kiện. Tòa phúc thẩm vì vậy xác định việc cấp sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường khoản tiền này là có căn cứ.
Điểm đáng chú ý ở đây không phải chỉ là “nguyên đơn có vi bằng” hay “nguyên đơn có phiếu thu”. Có phiếu thu giúp chứng minh một khoản tiền đã thực tế phát sinh; còn căn cứ để chuyển khoản tiền ấy thành nghĩa vụ bồi thường của người khác nằm ở bước tiếp theo: pháp luật có thừa nhận loại chi phí đó là thiệt hại được bồi thường trong hoàn cảnh cụ thể hay không, và việc bỏ ra khoản tiền đó có thực sự nhằm hạn chế, khắc phục hậu quả của hành vi xâm phạm hay không.
Chính điểm này giúp giải thích vì sao cùng là tiền lập vi bằng, Bản án số 1104/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh chấp nhận 8,4 triệu đồng, trong khi ở một số tranh chấp khác, Tòa lại xác định phí lập vi bằng chỉ là chi phí đương sự tự bỏ ra để thực hiện nghĩa vụ thu thập chứng cứ và phải tự chịu.
Nhưng 5,5 triệu đồng trong một
vụ thương mại lại phải tự chịu
Bản án số 1234/2023/KDTM-PT
ngày 22/12/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh cho thấy một cách tiếp cận khác.
Nguyên đơn cho rằng do phía bên
kia vi phạm hợp đồng nên mình phải lập vi bằng để có chứng cứ nộp cho Tòa, từ
đó yêu cầu bên kia thanh toán 5,5 triệu đồng.
Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Theo nhận định của Tòa, đĩa DVD ghi hình do Văn phòng Thừa phát lại lập là tài
liệu, chứng cứ do chính nguyên đơn thu thập nhằm chứng minh yêu cầu khởi kiện.
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn phải tự chịu khoản chi
phí này.
Điểm khác biệt rất đáng chú ý:
“Chi phí thu thập chứng cứ”
không phải trong mọi trường hợp đều trở thành “thiệt hại mà đối phương phải bồi
thường”.
Muốn chuyển khoản tiền ấy sang
cho bên kia, vẫn phải xác định được căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thanh
toán.
Bản án 06/2023: có vi bằng
nhưng các khoản phí vẫn không được chuyển sang bên kia
Bản án số 06/2023/KDTM-PT ngày
11/01/2023 của TAND TP. Hà Nội trong Thư viện bản án CHUNGCUSO cho thấy một
lớp vấn đề khác.
Bên cho thuê đã lập ba vi bằng
liên quan đến việc niêm phong mặt bằng, kiểm đếm tài sản, di chuyển tài sản và
lưu kho; sau đó yêu cầu bên thuê thanh toán các khoản phí lập vi bằng gồm 3,35
triệu đồng, 7,645 triệu đồng và 7,186 triệu đồng.
Nhưng Tòa xác định việc niêm
phong, di dời tài sản không được các bên thỏa thuận trong hợp đồng và cũng
không được chủ tài sản đồng ý. Hội đồng xét xử còn nhận định bên tự thực hiện
việc xử lý tài sản không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Điều này cho thấy:
Vi bằng có thể ghi nhận một sự
việc đã diễn ra. Nhưng việc sự việc ấy được ghi nhận không tự làm phát sinh
nghĩa vụ của người khác phải hoàn lại chi phí lập vi bằng.
Còn phải xem hành vi được ghi nhận
có căn cứ hay không, ai tạo ra khoản chi, và khoản chi đó có thực sự là hậu quả
pháp lý của hành vi bên kia hay không.
Có hợp đồng và hóa đơn vẫn
chưa phải là hết câu chuyện
Bản án số 66/2022/DS-ST ngày
12/04/2022 của TAND thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định cho thêm một ví dụ đáng
chú ý.
Nguyên đơn xuất trình hợp đồng dịch
vụ lập vi bằng và hóa đơn chứng minh đã chi 15,975 triệu đồng để ghi nhận
bài đăng trên Facebook. Tòa xác định đây là chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ
chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và có căn cứ chấp nhận khoản
chi này.
Nhưng vụ án chưa dừng ở đó.
Hội đồng xét xử xác định cả hai
bên đều có 50% lỗi. Vì vậy, khi tính tổng trách nhiệm bồi thường, Tòa áp
dụng tỷ lệ lỗi và xác định bị đơn phải bồi thường 50% tổng khoản thiệt hại được
chấp nhận.
Bản án này được xét xử năm 2022,
nên Tòa áp dụng Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP đang có hiệu lực ở thời điểm đó.
Không nên lấy nguyên căn cứ pháp luật của bản án này áp sang một vụ việc phát
sinh sau khi Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP có hiệu lực.
Sở hữu trí tuệ lại có một căn
cứ khác
Bản án số 19/2020/KDTM-ST ngày
17/09/2020 của TAND TP. Hà Nội chấp nhận 3,15 triệu đồng phí lập vi bằng
và 900.000 đồng tiền vé phục vụ việc lập vi bằng, tổng cộng 4,05 triệu đồng.
Hội đồng xét xử coi đây là chi
phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại trong vụ xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ.
Case này rất hữu ích để so sánh
cách Tòa nhìn vào mục đích của khoản chi. Tuy nhiên, đây là bản án năm 2020 nên
khi vận dụng cho vụ việc hiện tại phải đối chiếu lại pháp luật sở hữu trí tuệ
đang có hiệu lực, thay vì lấy nguyên căn cứ cũ áp dụng máy móc.
Vậy muốn yêu cầu bên kia trả
phí lập vi bằng, cần chứng minh gì?
Thứ nhất, căn cứ pháp lý. Vì
sao khoản phí lập vi bằng trong vụ việc cụ thể lại thuộc loại thiệt hại hoặc
chi phí mà pháp luật, hợp đồng hoặc một căn cứ khác cho phép yêu cầu bên kia
thanh toán?
Thứ hai, tính cần thiết và hợp
lý. Vi bằng được lập để ghi nhận điều gì? Vì sao cần lập vào thời điểm đó?
Sự kiện có nguy cơ bị xóa, thay đổi hoặc bị phủ nhận không?
Thứ ba, quan hệ nhân quả.
Khoản tiền lập vi bằng có thực sự phát sinh từ hành vi của bên kia không, hay
chính người yêu cầu đã tự tạo ra tình huống rồi phát sinh chi phí?
Thứ tư, số tiền thực tế. Hợp
đồng dịch vụ, hóa đơn, phiếu thu và chứng từ thanh toán giúp chứng minh khoản
tiền đã chi. Nhưng chúng mới trả lời được câu hỏi “đã tốn bao nhiêu”, chưa tự
trả lời được câu hỏi “ai phải trả”.
Thứ năm, toàn bộ chuỗi chứng cứ
của vụ án. Hành vi trái pháp luật, thiệt hại, quan hệ nhân quả, lỗi và các
mắt xích khác vẫn phải được xem xét.
Một cách phân biệt hữu ích khi
đọc các bản án
Qua những vụ án trên, có thể thấy
một nguyên tắc rất đáng tham khảo.
Nếu vi bằng chủ yếu được lập để
một đương sự thực hiện nghĩa vụ thu thập chứng cứ chứng minh yêu cầu của chính
mình, khoản phí có nguy cơ được xem là chi phí mà đương sự phải tự chịu.
Ngược lại, nếu việc lập vi bằng
là một biện pháp cần thiết, hợp lý để ghi nhận, hạn chế hoặc khắc phục hậu
quả của hành vi xâm phạm, đồng thời có căn cứ pháp luật đưa khoản chi này
vào thiệt hại được bồi thường, thì yêu cầu hoàn trả có thêm cơ sở để được xem
xét.
Đó không phải công thức chung cho
mọi vụ án. Loại tranh chấp, hành vi cụ thể, căn cứ pháp luật, mức độ lỗi và
toàn bộ chuỗi chứng cứ vẫn quyết định kết quả của từng vụ việc.
Nếu đã lập vi bằng và dự kiến
yêu cầu bên kia trả phí
Đừng chỉ giữ bản vi bằng.
Nên giữ cả hợp đồng dịch vụ, hóa
đơn hoặc phiếu thu, chứng từ thanh toán; tài liệu thể hiện vì sao phải lập vi bằng
vào thời điểm đó; chứng cứ về hành vi làm phát sinh nhu cầu bảo toàn chứng cứ;
và các tài liệu chứng minh hậu quả, thiệt hại liên quan.
Trước khi đưa khoản phí vào yêu cầu
bồi thường, có một câu nên tự trả lời thật rõ:
“Tại sao khoản tiền này là hậu
quả hợp lý của hành vi bên kia, chứ không đơn thuần là chi phí tôi bỏ ra để chuẩn
bị đi kiện?”
Đó là câu hỏi giúp giải thích khá
nhiều bản án tưởng như đang đưa ra những kết quả trái ngược nhau.
Tham khảo thêmNội dung liên quan
Khi nào nên trao đổi trực tiếp với người thực hiện?
Từ dữ liệu số (tin nhắn Zalo, bài viết Facebook, Email...) đến hiện trạng nhà đất, công trình hoặc giao dịch, chứng cứ thường cần được nhìn như một hệ thống: nguồn ở đâu, ai liên quan, ngữ cảnh nào, dữ liệu có còn nguyên vẹn và còn thiếu mắt xích gì. Ảnh chụp màn hình hoặc video tự quay vẫn có thể là tài liệu hữu ích, nhưng giá trị của chúng phụ thuộc vào cách xác định nguồn, chủ thể, ngữ cảnh và tính toàn vẹn trong từng vụ việc.